Từ tác giả Bảo Giang: Nhị Kiều nước Nam


Viết vào ngày Lê thị Công Nhân đứng trước cái gọi là tòa phúc thẩm Việt cộng

Bảo Giang,

Một trong những câu chuyện hay nhất trong Tam Quốc mà tôi còn nhớ như in từ khi đọc đến nay là câu chuyện về Nhị Kiều và trận Xích Bích đã đưa đến việc chia thiên hạ thành thế chân vạc giữa ba nhà Lưu, Tôn, Tào.

Khởi đầu câu chuyện này là việc Lưu Bị thất trận và để chín quận Tương Dương, đất vuông nghìn dặm của Lưu Biểu, trước khi thác đã muốn giao lại cho Lưu Bị trấn giữ rơi vào tay Tào Tháo. Nên trong lúc tàn quân không có đất cắm dùi, chúa tôi nhìn nhau trong thảm cảnh ,Gia Cát đành một mình mạo hiểm sang Đông Ngô làm thuyết khách mong liên kết Tôn - Lưu thực hiện kế chống Tào.

Truyện kể rằng. vào lúc ấy toàn cõi Giang Đông rúng động bởi Tào mới lấy được Tương Dương uy thế qúa lớn, lại đem đại quân đóng ở Giang Hán có ý nhòm ngó đông Ngô. Trước tình thế này, chúa tôi Đông Ngô không đồng thuận, phía văn quan đề xuất xin hàng cũng lắm, mà kẻ võ tướng có ý định quy giáp cũng nhiều, duy chỉ còn lại vài ba người như Lỗ Túc là quyết một lòng tỏ trung can cùng tuế nguyệt. Tuy thế, Tôn Quyền mỗi lúc một thêm nghi hoặc không quyết, bởi vì: Hàng thì yên, giữ thì khó..

Đúng lúc ấy, Gia Cát xuất hiện. Nhưng ông đã không mang tài hùng biện, trí thao luợc cũng như quân hùng, tướng mạnh của Lưu Bị ra để làm trục tiếp vận cho cuộc liên minh với Ngô. Trái lại, ông đã làm cho triều thần Đông Ngô thêm bối rồi vì bản tin thổi phồng thêm sức mạnh cho đoàn quân của Tào. Từ đó phe chủ hàng thêm đông.. Riêng Tôn Quyền chi còn trông cậy vào ý kiến của Chu Du lúc ấy đang ở ngoài biên.

Đến khi gặp Gia Cát, Du bảo hàng, Lỗ Túc bảo không. Riêng Gia Cát ngồi mìm cười và chê Lỗ Túc không thức thời vụ. Đến khi đuợc hỏi ý, Gia Cat khuyên Chu Du nên hiến hai nàng kiều ở Giang Nam cho Tào Tháo vui tuổi già mà làm kế nghị xin hoà:

- Ông xem, Giang Nam mất hai nàng kiều thì như rừng già mắt hai cái lá và kho Thái Thượng mất hai hột thóc… đáng kể gì. Vậy tướng quân còn chần chờ gì nữa mà không sai sửa thuyền kết hoa, đưa người sang sông làm kế rút quân cho Tào?

Nghe thế Chu Du nóng mặt hỏi lại:: Ông có bằng cớ gì chứng minh là… Tào có ý ấy không?

Nghe hỏi, Gia Cát liền đọc ngay bài Đổng Tước Đài Phú. Khi đọc đến câu 7 và tám Gia Cát đổi đi vài chữ:

“Tìm hai Kiều phương Nam về sống,

Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân….

Thay vì nguyên văn là:

“ Bắc hai cầu Đông Tây nối lại,

Như cầu vồng sáng chói không gian…

Vừa nghe xong, Chu Du đứng vụt dậy, trỏ tay về hướng bắc, nghiến rằng trợn mắt mà thề rằng:

-Thằng giặc gìa họ Tào kia dám khinh ta thế à? Ta thề sẽ giết nó.

Lời nghiến răng của Chu Du kêu ken két mà Gia Cát lại bảo: - Này ông, khẽ chứ! kẻo Tào nó nghe thấy thì nguy. Vả lại có đáng gì hai nàng dân gỉa ấy?

Chu Du muốn thổ huyết, cắn răng bảo Gia Cát Rằng.: “ Thằng giặc gìa kia dám khinh ta thế à? Ta thề sẽ giết nó! Kềt qủa, lời thề của Chu Du đánh tan mọi mối nghi nghi hoặc trong lòng Tôn Quyền, nên trong ngày hội , Quyền đã rút bảo kiếm ra chém đứt một góc bàn rồi trao kiếm cho Chu lang, hạ lệnh. Kẻ nào nói hàng là chém.

Xem lại đoạn sách xưa, cũng không khác cảnh ngày nay của ta là mấy.. Người xin hàng mỗi ngày một đông thêm, nhưng người vì dân mỗi lúc vẫn thêm người. Có điều, từ chữ chém của Tôn Quyền, trận Xích Bích với bao cuồng phong, phẫn nộ, lao khổ, đảm lược mưu trí mở ra. Đến khi khép lại, Giang Đông yên toạ với hai nàng Kiều nhưng thiên hạ nhà Hán đã thành ba chân vạc:Thục, Ngô, Ngụy, Như thế, chuyện nước nam ta có chỗ khác với việc tam quốc xưa là chưa có người ra lệnh… chém kẻ xin hàng nên cơ hội mở nghiệp của ngày nay còn lận đận.

Tuy nhiên, trong lịch sử, chuyện nước Nam ta cả ngàn năm nay vẫn còn vang vọng tiếng đồng loa gọi mời theo lời núi sông của Nhị Trưng Ai cũng biết, dân nước ta không được trường trị lâu dài dưới bóng cờ khởi nghĩa dành độc lập của Nhị Trưng , nhưng dòng sông Hát vẫn còn kia, và cái đầu Tô Định tham tàn rơi xuống trên đất Nam là một minh chứng cho dòng lịch sử bất khuất của dân tộc ta. Một dân tộc hiền hòa, xo với láng giềng thì đất nhỏ dân số ít, nhưng chí kiêu hùng thì vốn từ ngàn xưa chưa hề khuất phục bạo quyền. Theo đó, nhị kiều trong tam quốc chắng qua là chuyện hư mà chỉ có Nhị Trưng mới là chuyện thật đáng soi.

Nay ngoảnh nhìn lại, sau bao lớp phế hưng của thời đại, sau bao nghiệt ngã tàn phá của hết thực dân tàu đến tây, nếp hoàng đồ của quê hương chỉ còn trơ lại đôi gọng xe gẫy đổ. Đã thế, cuộc xâm thực của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà Hồ Chí và Việt cộng là tiêu biểu của loài ký sinh mới đã đục khóet đến tận xương tủy cơ chế nhân bản của dân tộc, để ngày nay trơ lại trên giang sơn ấy một mớ hõn độn của diện văn hóa vô văn hoá từ thượng đỏ cho đên hạ cán, phơi mặt ra với xã hội là những khuôn mặt người nhưng vô nhân tính. Riêng phúc sinh của con dân và xã hội thì thoi thóp trong cảnh dân oan gặp bất công trên bình diện cả nước. Phần nhân phẩm nhân quyền của con người bị chà đạp,và hơi thở tự do thì không thấy. Rồi cả một xã hội thuần lương Việt được Cộng xây dựng trên căn bản đổ đốn của một loại văn hóa vô luân. bất nhân bất nghĩa. Kết qủa, sau năm mươi năm làm lãnh đạo, khắp nước không còn tìm ra được một cán bộ của nhà cầm quyền còn tính người. Kẻ lãnh đạo chóp bu thì ra ngoại quốc mời mọc khách bằng một câu vô phẩm cách: “Vào đi các ông, ở Việt Nam có nhiều gái!” Kẻ tầm trung thì bịt miệng người ngay trước nơi mà chúng gọi là tòa án. Với những lời nói và hành động được cộng sản giáo dục như thế thì làm gì mà sinh linh không đồ thán?.

Với muôn điều tệ hại như thế, Cộng tưởng rằng chúng có thể ngủ yên trên những độc ác, tráo trở vô đạo và nấm ký sinh Hồ Chí có thể chui rúc nằm vùng trong quần chúng như khẩu hiệu của chúng múa võ mãi sao?

Không, dĩ nhiên là không. Tất cả những gìa cỗi, đảo điên, vô văn hóa của kẻ bội phản dân tộc phải bị triệt hạ. Những đổ đốn như cỏ mục ấy không thể tạo sinh khí cho thời đại của Dân Chủ, của Tự Do, của Nhân Bản. Nói cách khác, nền văn hóa Nhân Bản của dân tộc sẽ mãi trường tồn và Nhân Lễ Nghĩa Tín Trung là chủ nguyên của nòi giống Việt sẽ còn mãi mãi với, không phải chỉ với non sông Việt, hơn thế, còn dọi sáng cho cuộc sinh hoạt trong cộng đồng thế giới.

Đó là lời khẳng định, Đó là lẽ tồn sinh của dân Viêt. Bởi vì từ trong cuộc tồn sinh ấy, thế giới ngày nay đã có dịp nghe đến một âm thanh tuy nhỏ nhẹ, nhưng sức mạnh tưởng chừng như có thể làm vỡ toang bầu khí quyển của trái đất:

“ Bằng tất cả lương tâm và trách nhiệm của mình với đất nước và dân tộc Việt Nam, tôi sẽ chiến đấu tới cùng, cho dù chỉ còn có một mình tôi trong cuộc tranh đấu cho Nhân Quyền, Tự Do và Dân Chủ cho Việt Nam….

“ Tôi không thách thức, nhưng nếu CSVN đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn dìm, dập nước Việt Nam vào tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về kinh tế và lạc hậu về văn hóa và còn kéo dài cho mãi đến đời con cháu… thì tùy họ cứ hành xử những gì họ có…

‘’ Cộng sản đừng có mong chờ bất cứ một điều gi dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi…LTCN.

Ai có thể tưởng tượng ra được những lời công bố ấy lại phát xuất từ một người thiều nữ mới vừa 27 tuổi? Ai có thể tưỏng tượng ra được một lòng dũng cảm vô biên của một người thều nữ đôi mươi đã không những dám đương đầu với bạo lực, hơn thế, còn dạy giỗ cho bọn cường đồ cộng sản Hồ Chí những bài học căn bản làm ngừời? Và ai có thể tưởng tượng ra được ngừơi thiếu nữ đôi mươi ấy đã không những làm sống lại, nhưng còn mở ra một con đuờng đạo lý trong nhân bản vị con người cho xã hội ngày mai hướng tới, và kêu mời toàn dân góp sức chung lòng cho hướng đi Tư Do, Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam..

Và nay thì không còn ai có thể chối bỏ được âm thanh nhỏ nhẹ của ngưòi thiếu nữ đôi mươi kia đã đi một bước dài vào tiến trình của chinh phục, không những lời lẽ ấy chiếm trọn tất cả tim lòng con dân Việt Nam mà còn làm cho cả thế giới loài người ngường phục lòng qủa cảm và tâm hồn bao dung Nhân ái ấy. Theo đó, chỉ có kẻ vô tri vô giác và lớp ký sinh Cộng - Chí mới chối bỏ cái cội nguồn như chân lý trong lời lẽ của Lê thị Công Nhân mà thôi.

Như thế, lửa thiêng của giòng Lạc Hồng đã bừng lên từ trong bóng đêm đen thẳm Lửa đã bùng cháy lên để dẫn đường cho con dân Việt tẩy trừ đi những hỗn độn từ vô pháp vô cương. Lửa với nhân tâm sẽ tái lập lại nền công lý trong Nhân Lễ Nghĩa Tín Trung. Lửa sẽ tái lập lại một nền luân lý , đạo nghĩa cho xã hội mà ký sinh cộng sản đã thi nhau rúc rỉa, làm băng hoại từ hơn nửa thế kỷ qua.. Rồi lửa nhân ái sẽ đưa dân Việt hội nhập vào cộng đồng nhân bản của nhân loại bằng tự tin và bình đảng. Nhưng trên hết, lửa ấy sẽ được nối kết với tất cả mọi vòng tay Việt Nam để cùng nhau, từ trong ra ngoại, tạo nên một sức sống và một công nghiệp mới cho dân tộc và quê hương.

Đuốc thiêng đã cháy sáng, nhưng quốc nạn chưa qua và Lê thị Công Nhân thì đang bị Việt công giam giữ trái phép thì ai sẽ thay thế Nhân truyền ngọn lửa thiêng đến từng nhà, từng người?

Hẳn nhiên những gìa cỗi, gìa cỗi từ tâm trí đến say mộng quyền lực không thể làm được công tác này. Hẳn nhiên những thù hận không bao dung, những bè phái u mê không có lòng nhân ái vì dân tộc không thể tiếp sáng được ngọn lửa của Lê Thị Công Nhân. Và hẳn nhiên những con hề kịch cỡm không thể là những đồng bóng để làm tàn lụi ngọn lửa thiêng của dân tộc.

Vậy thì ai là ngưòi có thể?

Hình như lịch sử về đất hứa của dân Do Thái xưa đã mất bốn muơi năm để tinh luyện, để đào thải sẽ là một bài học rất rõ nét cho người Việt hôm nay. Bởi vì theo lịch sử ấy, hầu hết những người đã trưởng thành , hay các đầu mục của dân Do Thái đã hăng hái dẫn dân rời Ai Cập, chẳng mấy nhười vào được đất hứa! Tại sao thế? Cho đến nay chả ai tìm được câu trả lời cho rõ nghĩa.

Nhìn lại hoàn cảnh của người tỵ nan Việt nam hôm nay có khác gì dân Do Thái bị lưu đày trên sa mạc xưa kia? Họ có người lãnh đạo là Moises. Nhưng quyền lực của Moises hình như không đủ vì cuộc lưu đày qúa lâu dài. Hơn thế, số người nằm lại trên đường về đất hứa một ngày một nhiều và cả Moises cũng chỉ mơ thấy đất hứa mà chính bản thân ông ta không được hít thở xem không khí của mảnh đất hứa ấy trong lành ra sao càng làm cho lòng dân chán nản. Ôi một thảm cảnh, một tang thương. Người là thế. Khi nhìn lại ta thì cuộc lưu đày của người Việt hôm nay mòn mỏi có khác gì cuộc lưu đày xưa kia của dân Do Thái. Có khác là dân Do Thái có cái đoạn kết là bốn mươi năm!. Và khác là Do Thái xưa có được Josuê. Còn cuộc lưu đày của dân ta thế nào? Cơ may đã đến chưa?

Tôi tin rằng ngươi Việt ta sẽ không ngồi thở dài và nhắc đến những danh hề văn võ đã tạo thêm cho sự tan nát niềm tin của người Việt trong những ngày qua để tiếp tục kéo dài thêm ngày ly hương. Trái lại, tôi tin rằng thế hệ của ngày bốn mươi đang tới và dân ta đã có sẵn một người khả dĩ sẽ đưa cao ngọn đuốc thiêng của Lê Thị Công Nhân soi dọi vào tận cùng mọi tim lòng của người Việt Nam, hơn thế, còn có khả năng làm cho ngọn lửa ấy sáng rực lên trong cộng đồng Quốc Tế, để từ đó, con đường Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền của Việt Nam sẽ được phục hồi sau bốn thập niên bị lấm bùn vì ký sinh Hồ - Cộng..

- Người ấy là ai?

- Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh!

Xin độc gỉa, cùng chư liệt vị đừng lên tiếng vội. Hãy giữ cho lòng mình vài giây thanh thản để nghĩ về tên người tôi vừa nhắc đến xem thế nào:

- Đây có phải là một người có tấm lòng Nhân ái với đồng bào Việt Nam Nam hay không? – Đây có phải là một người còn thiết tha với tiền đồ của Việt Nam , hơn thế, còn muốn góp công góp sức của mình vào con đường dấn thân cho Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho Việt Nam hay không?

- Đây có phải là một người có lòng bao dung và luôn thiết tha góp sức xây dựng lại một xã hội Việt Nam đặt trên nền tảng của Nhân Lễ Nghĩa Tín Trung hay không?

- Đây có phải là một người dù đứng trên một đỉnh danh vọng tuyệt đối ( có thê nói, không một người Việt Nam nào có thể so xánh được với vị thế của Dương Nguyệt Ánh vào giai đoạn này) vẫn giữ đủ Lễ Nghĩa trong lời ăn tiếng nói với đồng bào Việt Nam hay không?

- Như thế, có ai trong cộng đồng Việt Nam xứng đáng hơn Khoa Học Gia Đương Nguyệt giữ vai trò của Josuê khi đưa dân Do Thái ra khỏi cuộc sống lưu đày mà về đất hứa.?

Tôi không biết câu trả lời thật lòng của qúy vị. Phần tôi, tôi tin rằng không có bất cứ một người nào khác ngoài Dương Nguyệt Ánh ra có thể làm nổi công việc này. Bởi vì Nhị Trưng không thể có một. nhưng phải là hai. Việt Nam ta hôm nay trong nước đã có Lê Thị Công Nhân, ở ngoài nước thì Tài Trí, Nhân Tâm sáng tỏ đã có Dương Nguyệt Ánh. Theo đó, đất nước Việt Nam hôm nay không thể thiếu một trong hai Nhị Kiều .

Nếu Nhị Trưng xưa, nay lại lên đường, nhất hô vạn ứng thì đường lưu đày sẽ không còn nước mắt mà toàn dân ta sẽ reo hò trong Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền. Khi ấy ký sinh ở mồ Ba Đình có ngã đỗ vật xuống dưới chân Nhị Kiều và toàn dân nước Nam mà nhận lấy án lệnh của công lý cũng là lẽ thường chẳng có gì là lạ.. .

t.b. Đây là ý kkiến riêng của tôi, tuy nhiên, tôi rất mong được đón nhận tất cả mọi lời bình, thuận cũng như không thuận trong tình tự nhân bản của những người mong ngày về trong khát vọng được thấy Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền nở hoa trên non sông Việt Nam.

Bảo Giang : baogiang_54@yahoo.com.au